Top 10 bài tiểu luận phân tích hay nhất về "Nhớ rừng" của Lu

0
32

Bài thơ "Mất rừng" của Lu được sáng tác năm 1934 và được in trong cuốn sách "Một vài câu thơ" cho thấy một chủ đề tuyệt vời xuyên suốt văn học Việt Nam: chủ đề về lòng yêu nước. Với ngôn ngữ và âm nhạc phong phú và mang tính biểu tượng, hình ảnh và bài thơ rất thành công khi mượn lời của con hổ trong sở thú để thể hiện sự phẫn nộ của những thanh niên trí thức yêu nước cùng một lúc. thức tỉnh ý thức cá nhân. Mời độc giả tham khảo một số công việc phân tích bài tiểu luận mà Toplist tóm tắt trong bài viết dưới đây để thấy rõ hơn điều đó.

Đầu tiên Hòa bình

Bài thơ phân tích "Khu rừng" của Lu số 1

Lu (1907-1989) là bút danh của Nguyễn Thu Lê. Thơ, viết truyện, viết kịch, đạo diễn. Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam. Trong mọi khía cạnh, anh ấy có thành tích xuất sắc. Lu là nhà thơ tiên phong, được ca ngợi là "Nhà thơ đầu tiên" trong phong trào "Thơ mới" (1932-1941). Thơ: "Một vài câu thơ" đại diện cho một "tâm hồn rộng mở", với sự phong phú của sự lãng mạn nồng nàn, đam mê, đam mê và đam mê.

Bài thơ "Nhớ rừng" được viết bởi The Lu vào năm 1934, được in trong tập "Vần tháng năm" xuất bản năm 1935. Mượn con hổ bị mắc kẹt trong Sở thú, tác giả bày tỏ cảm giác phẫn nộ, căm ghét và khao khát tự do mãnh liệt của người bị giam cầm, nô lệ.

Huck một khối đáng ghét trong một cái lồng sắt. Bị nhốt trong một "chiếc lồng sắt", lòng thù hận và oán giận chứa các chất thành "khối", "gn" mãi mãi nhưng không bao giờ tan chảy, càng "tham lam" thì càng cay đắng. Chỉ biết "nói dối" bất lực, đau khổ. "nhạo báng", bị "giam cầm và làm nhục", trở thành "một món đồ chơi" "cho" những người khác kiêu ngạo, hoang mang ". Khốn khổ nhất là chúa tể rừng giờ tầm thường hóa, vị trí đã xuống cấp.

"Gấu với gấu,

Với một cặp báo tốc ký ".

Đó là một tâm trạng điển hình đầy bi kịch của chúa tể rừng khi sa sa, mất vị trí, bị cầm tù. Trong bối cảnh lịch sử của nước ta khi bài thơ ra đời (1934), sự sỉ nhục, thù hận và cay đắng của con hổ cũng trùng khớp với bi kịch của nhân dân ta trong chuỗi nô lệ sống trong bóng tối. " khổ sở ".

Tôi sống mãi trong tình yêu và nỗi nhớ. "Nỗi nhớ tình yêu & # 39; sống mãi mãi, không bao giờ quên. Hãy nhớ" thời thơ ấu lang thang … "," nhớ phong cảnh vẽ cây rừng cả già. "Ghi nhớ âm nhạc rừng hùng vĩ dữ dội. Từ" nhớ "từ" với "và cách ngăn chặn nhịp điệu (4-2-2, 5-5, 4-2-2 …), tỷ lệ đã vang lên hoài niệm Nỗi nhớ khôn nguôi, hối hận, nhớ da.

Sự phong phú của âm nhạc mô tả cuộc sống nội tâm vô cùng mạnh mẽ của một nhân vật phi thường có quá khứ huy hoàng. Một tấm cơ thể "như một làn sóng cuộn nhịp nhàng". Bước mạnh mẽ và mạnh mẽ & # 39; & # 39; ồn ào, hoàng gia. "Một đôi" đôi mắt ma thuật "và khi" kỳ quặc ";" tất cả mọi thứ là im lặng ". Một sức mạnh của quyền lực bất khả xâm phạm. Những bài thơ gieo vần nói về nỗi nhớ:

"Hãy nhớ phong cảnh sơn cây rừng và cây cổ thụ

Với tiếng gió hú, với tiếng nguồn reo núi.

Với tiếng hét dài dữ dội

Chúng tôi bước trên bàn chân, rõ ràng và đường thẳng,

Tấm thân lướt như sóng cuộn nhịp nhàng

Sân bóng lặng lẽ, lá gai, cỏ nhọn

Trong hang tối, mắt tôi đã có vảy

Làm mọi thứ im lặng … "

Các động từ "la hét, la hét, gào thét" mô tả bài thơ dài dữ dội của núi rừng, dòng suối linh thiêng và hùng vĩ. Đó là những câu thơ tuyệt vời làm cho thơ mới sang trọng. "Tôi nằm xuống" … rồi "Tôi sống mãi trong ký ức của ký ức". Nhớ khi "sắp ra …", hãy nhớ một thời gian trị vì:

"Tôi biết tôi hy sinh tất cả các sinh vật sống,

Ở giữa nơi hào hoa không tên, không tuổi. "

Một từ "tôi" nghe có vẻ tự hào. Vị thần núi được miêu tả ở nơi sâu thẳm của tâm linh, trong chiều cao của uy quyền được xác nhận. Các câu hỏi tu từ liên tục xuất hiện như một kiểu thức tỉnh và khơi dậy "ký ức" đang trỗi dậy: "nơi …", "nơi những ngày …", "nơi bình minh …", "Nơi chiều .. . ". Nhớ mãi, trăng và suối, những ngày mưa, bình minh, bình minh, giấc ngủ, những con chim. Và "buổi chiều đẫm máu". … ".

Bài thơ tuyệt vời nói về bốn kỷ niệm của chúa tể rừng, hồi ức liên tục ngày đêm, đầu và tối, mưa và nắng, thức và ngủ, bận tâm và chiêm ngưỡng, trong khi chờ đợi … Một không gian Nghệ thuật được tái tạo và được mô tả thông qua bốn chiếc bình của một họa sĩ. Vị thần rừng đôi khi mơ màng giữa dòng trăng, đôi khi suy ngẫm, đôi khi kìm nén, kiên nhẫn chờ đợi để "ném …" và "cau có …"! Câu 10 câu này là hay nhất trong "Nhớ rừng":

"Đâu là những đêm vàng bên suối,

Tôi đứng uống say mê ánh trăng tan. & # 39;

Những ngày mưa di chuyển bốn hướng

Chúng tôi suy ngẫm về sự đổi mới của chúng tôi

Nơi mặt trời phơi nắng,

Tiếng chim hót tưng bừng?

Buổi chiều đẫm máu sau rừng

Tôi chờ mặt trời khắc nghiệt để chết

Hãy để tôi giữ bí mật

– Than ôi! Đâu là thời gian huy hoàng này? "

Sau nỗi nhớ về một tuổi thơ vàng son, một thời huy hoàng, bỗng nhiên hoàng tử rừng bỗng tỉnh dậy, trở về thực tại với một chiếc cũi sắt, vô cùng đau đớn và cay đắng. Khi một ngọn núi sụp đổ, con hổ lên tiếng. Sự kết hợp của câu cảm thán và câu hỏi tu từ vang lên với một bài thơ, một tiếng than khóc của "tôm hùm nghệ thuật", của một thần đồng phi thường. Đó cũng là tiếng thở dài của một lớp người khao khát. tự do ngày hôm đó:

"Than ôi! Thời gian huy hoàng này ở đâu?"

Bây giờ chúng tôi ôm lấy hàng ngàn điều hối tiếc.

Trở lại nỗi buồn và nỗi nhớ "khung cảnh đất nước trẻ trung hùng vĩ". Chỉ có tin nhắn được gửi một cách nghiêm túc và bồn chồn: "Ôi khu rừng ghê gớm của tôi!".

"Nhớ rừng" là một bài thơ hay. Nó được phân loại trong thể loại 10 bài thơ hay nhất của Thơ mới. Hình ảnh tráng lệ, tráng lệ. Biểu hiện và sử dụng chuyển đổi ngôn ngữ. Âm nhạc đa âm và đa âm tạo nên giai điệu thơ. Thơ nên vẽ nhạc như quyến rũ và quyến rũ như tâm hồn của chúng ta.

Hình ảnh chúa tể rừng xanh với nỗi nhớ rừng được nhắc đến với nhiều "lớp sóng phong phú". Trong nỗi đau của cơ bắp, niềm tự hào và niềm tự hào bị mất. Bài thơ giống như một thông điệp nồng nàn về tình yêu đất nước. Ý nghĩ lớn nhất của bài thơ là nói về cái giá của tự do và khát vọng tự do.

2 Hòa bình

Bài thơ phân tích "Khu rừng" của Lu số 2

Một trong những nhà văn xuất sắc có mặt lúc đầu là The Lu. Nhiều tác phẩm của ông đã đóng góp rất lớn cho sự phát triển của Thơ mới, tiêu biểu nhất trong số đó là Mang Rung. Trong Nhớ rừng, The Lu đã thể hiện một khát vọng tự do ảm đạm, chán nản và đam mê tự do thông qua việc cho mượn con hổ trong sở thú. Đó cũng là lời thú nhận chung của những người yêu nước Việt Nam trong tình trạng mất nước.

Trong những ngày đầu ra đời, phong trào Thơ mới có sự phát triển cả về phong cách và nội dung. Trên các giai đoạn phát triển, Thơ mới dần dần tự giải phóng mình khỏi sự bình thường nghiêm ngặt và hệ thống ước lượng "vô ngã" của thơ cổ điển. Các nhà thơ đã khám phá thế giới bằng chính giác quan và cảm xúc thực của họ. Đó là thời điểm cái tôi rõ ràng xuất hiện trong thơ.

Có sự gia tăng của cảm xúc mãnh liệt của con người vượt qua thực tế khách quan. Do đó, Thơ mới có xu hướng thoát khỏi hiện thực, thể hiện tâm trạng bất hòa và bất lực trước hiện thực xã hội. Do đó, Thơ mới cũng đã tiết lộ sự kháng cự quyết liệt của nó đối với hiện thực tầm thường và sai lầm, giam hãm giấc mơ của mọi người.

Chia sẻ cùng một thái độ phản kháng, The Lu đã viết những dòng tâm trạng thơ mộng trong Ký ức rừng. Mượn con hổ từ sở thú để tự nói chuyện. Lu đã xây dựng một cảnh vừa bí mật vừa rất thực và ẩn sâu. Tất cả hình ảnh được đề cập trong bài viết này đều là về cuộc sống của con hổ. Thực tế là con hổ bị nhốt trong một cái lồng sắt và nó cảm thấy cuộc sống của nó chứa đựng nỗi u sầu buồn bã khi bị giam cầm, những cảnh "tầm thường tầm thường" trong sở thú.

Do đó, nó cảm thấy hoài niệm về quá khứ huy hoàng trong những ngọn núi và rừng rậm hùng vĩ. Đây là hai cảnh hoàn toàn tương phản giữa thực tế và quá khứ. Hổ ban đầu là động vật được coi là chúa tể của tất cả các loài, nhưng bây giờ vì cát phải chịu cảnh "sỉ nhục" trong một cái lồng sắt. Không gian sống của chúa tể rừng xanh đã bị thu hẹp và từ đó được biến thành một "trò chơi lạ mắt", một "món đồ chơi" trong mắt mọi người. Đối với nó, cuộc sống đã trở nên nhạt nhẽo vì bây giờ sống ở một nơi không xứng đáng với vị thế của một vị chúa rừng.

Ôm một khối đáng ghét trong một cái lồng sắt

Tôi nằm nghiêng mong chờ ngày

Con hổ bất lực vì không có cách nào thoát khỏi cuộc sống tù túng, nên anh theo dõi thời gian trôi qua vô ích. Nhưng bất kể trong hoàn cảnh nào, "giống như tôm hùm" luôn biết thân phận thực sự của mình là một vị thần. Người đàn ông ba mươi tuổi tỏ thái độ khinh bỉ và khinh thường đối với sự thờ ơ với sức mạnh thực sự của bản chất của những "người kiêu ngạo kiêu ngạo", những người chỉ "ngước mắt lên để chế nhạo tinh thần rừng".

Chán nản làm sao cảnh sống với bầy với "gấu điên", với "bên báo vô tư"! Làm thế nào để chịu đựng cuộc sống cam chịu và chấp nhận số phận của những "người bạn" đang ở trong hoàn cảnh tương tự. Đó là nỗi buồn, sự thù hận đè nén để tạo nên sự thù hận chứa đựng trong lòng. Mệt mỏi, chán chường, bất lực! Trong hoàn cảnh đáng thương như vậy, con hổ đã nghĩ về kiếp trước huy hoàng của mình:

Tôi sống mãi trong tình yêu và nỗi nhớ

Cuộc sống hối hả ngày xưa

Nhớ cảnh vẽ toàn cây cổ thụ.

Với tiếng gió hú, với tiếng nguồn reo núi

Với tiếng hét của giai điệu dữ dội …

Con hổ hối hận khi nhớ về thời thơ ấu "hống hách" nơi "bóng cây già". Đó là một nỗi nhớ sâu sắc về khu rừng. Nhớ rừng là thiếu tự do, nhớ "thời gian huy hoàng", và nhớ về sự cao quý, chân thực và tự nhiên. Ở đất nước non trẻ hùng vĩ đó, con hổ đang trị vì một thế lực giữa cuộc đời.

Sự dũng cảm của một chúa tể rừng luôn đại diện cho quyền lực tối cao của mình với sức mạnh phi thường. Những gì nó cần làm là làm cho mọi thứ đáng kính. Ở đó, con hổ xuất hiện với tư thế kiêu ngạo nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp hùng vĩ giữa những ngọn núi và rừng hùng vĩ:

Tôi bước trên con đường hoàng gia

Tấm thân lướt như sóng cuộn nhịp nhàng

Bóng mượt của lá

Trong bóng tối của mắt khi tinh thần đã cau có

Là làm cho mọi thứ im lặng

Tôi biết tôi là chúa tể của mọi sinh vật

Giữa xưởng hoa không tên

Vẻ đẹp thực sự của một con hổ là đây! Từng bước chân, từng thân hình, từng ánh mắt gợi lên một cái nhìn vừa hùng vĩ vừa dịu dàng. Trong mọi hành động, con thú cho thấy tất cả mọi thứ sức mạnh tối thượng khiến mọi người "im lặng". Sống tự do giữa rừng mãi mãi là một điều rất cao quý. Có những con hổ thực sự tận hưởng cuộc sống tươi đẹp mà thiên nhiên dành riêng cho nó.

Đây là những khoảnh khắc khi con hổ "tò mò", đang theo dõi sự thay đổi của "Giang Sơn", đang ngủ say và muốn chiếm giữ "bí mật" của chính nó. Nó đã được thoải mái ở đất nước của mình và khẳng định giá trị đích thực của cuộc sống với quan điểm lộng lẫy, thơ mộng và lôi cuốn. Nhưng bây giờ, tất cả chỉ là hoài niệm về quá khứ.

Hổ chưa bao giờ thấy cảnh "đêm vàng bên suối", thấy cảnh "những ngày mưa quay bốn phương", nghe tiếng chim hót, đắm chìm trong cảnh "cây xanh bình minh và nắng". dầu gội, "đang chờ đợi" mảnh mặt trời chết "của" hậu quả đẫm máu của buổi chiều ".

Những cảnh tượng đó chỉ khiến con hổ cảm thấy hối hận, xót xa trong cảm xúc mãnh liệt, tràn ngập của những câu hỏi đau đớn. Nỗi nhớ không nguôi trào dâng với cảm xúc về quá khứ tươi đẹp đã khép lại giấc mơ lộng lẫy trong tiếng khóc bi thảm: Than ôi! Đâu là thời gian huy hoàng này.

Sống lại với những ký ức đẹp đẽ trên những ngọn núi hùng vĩ, con hổ chợt nhận ra sự tầm thường giả tạo của khung cảnh nơi nó sống. Trong ánh mắt kiêu ngạo của những con hổ là những cảnh "không thể thay đổi", những cảnh đơn điệu nhàm chán được mọi người chỉnh sửa và cố gắng "bắt chước". Chúa tể của rừng rậm đã thể hiện sự khinh bỉ và tuyệt vọng trước những cảnh tượng khiêm nhường của những lời nói dối nhân tạo.

Đó không phải là nơi thích hợp để sống như một người cai trị. Bất chấp những nỗ lực để khắc phục, đây chỉ là "những dải nước đen giả không chảy" dưới "gò đất thấp", "hoa sóc, cỏ dại, những con đường bằng phẳng, cây cỏ" không có gì. là "bí ẩn" "bỏ hoang". Những cảnh giả khiến con hổ tiếc nuối nơi "ngàn năm đen tối".

Cuộc sống thực ghê tởm, ôm lấy sự oán giận không ngừng, những con hổ khao khát một cuộc sống tự do mãnh liệt. Tất cả cảm xúc tình cảm của hổ thuộc về nơi rừng âm u hàng ngàn năm đen tối. Cũng qua đó, chúa rừng đã gửi thông điệp tha thiết về những ngọn núi. Mặc dù là sa sa hổ, nhưng hổ không che giấu niềm tự hào khi nói đến "đất nước trẻ hùng vĩ".

Giang Sơn là nơi hổ có những ngày tươi đẹp và vật lộn để vật lộn trong một không gian riêng. Ngay cả bây giờ anh ta sẽ không bao giờ được hồi sinh ở những nơi cũ, nhưng con hổ không bao giờ ngừng nghĩ về "giấc mơ vĩ đại". Chúa mất vương miện cầu xin được sống mãi trong ký ức, nỗi nhớ về vẻ đẹp không bao giờ quay trở lại:

Hãy để tâm hồn tôi trôi nổi gần bạn

Ôi khu rừng ghê gớm của tôi

Trái tim của con hổ là lời tỏ tình của chàng trai trẻ Lu đang mơ về cuộc sống tươi đẹp đã qua trong quá khứ. Đó cũng là tinh thần chung của hầu hết tất cả các bài thơ của The Lu cũng như trong phong trào Thơ mới, mang theo khát vọng sống của chính con người.

Hãy nhớ rằng Rừng không thể thoát khỏi nỗi buồn, "căn bệnh tâm trí của thời đại" rồi. Nhưng bài thơ là độc nhất vì nó tạo ra điểm gặp gỡ giữa sự phẫn nộ của những người mất nước và tâm trạng bất hòa trước thực tế của thế hệ trí thức tư sản trẻ. Qua đó khơi dậy khát vọng tự do chính đáng

Giàu cảm hứng lãng mạn và cảm xúc mãnh liệt, Me Forest đã lan tỏa một tinh thần thôi thúc thơ và nhiều hình ảnh thơ ấn tượng miêu tả vẻ đẹp hùng vĩ của những ngọn núi. Thành công của Lu là thể hiện trí tưởng tượng phong phú khi anh mượn hình ảnh của một con hổ trong sở thú để nói lên những cảm xúc sâu sắc và bí mật của mình. Qua đó thể hiện sự ghê tởm của cuộc sống chật chội, đồng thời khơi dậy tinh thần yêu nước của những tuổi thơ đó.

3 Hòa bình

Bài thơ phân tích "Khu rừng" của Lu số 3

Tên đầy đủ của Lu là Nguyễn Thu Lê, sinh năm 1907, mất năm 1989, quê ở Bắc Ninh, được coi là một trong những lá cờ tiên phong của phong trào Thơ mới (1932 – 1945). Với lượng cảm xúc dồi dào và khả năng sử dụng ngôn ngữ thông minh, ông đã góp phần quan trọng vào việc đổi mới thơ ca Việt Nam.

Ngoài tập thơ xuất bản năm 1935, Lu còn sáng tác nhiều thể loại khác như truyện trinh thám, truyện kinh dị, truyện rừng rậm, kịch … Trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp, ông hoàn toàn chuyển sang hoạt động sân khấu và có nhiều công đức trong việc xây dựng ngành sân khấu ở nước ta.

Cái tên The Lu gắn liền với bài thơ Thiếu rừng được nhiều người yêu thích. Mượn lời của con hổ bị nhốt trong sở thú, tác giả đã mô tả sâu sắc và sống động tâm trạng oán giận, ghê tởm cuộc sống tù túng, tầm thường và hoài niệm về cuộc sống tự do trong quá khứ. Qua đó, kín đáo bày tỏ thái độ phủ nhận thực tế nô lệ, khao khát tự do mãnh liệt và tinh thần yêu nước thầm kín và tha thiết của nhân dân ta.

Để hiểu tất cả vẻ đẹp và vẻ đẹp của tác phẩm, trước tiên chúng ta cần hiểu ngắn gọn về khái niệm Thơ mới và phong trào Thơ mới. Hai từ thơ mới ban đầu được sử dụng để đặt tên cho thơ thơ tự do xuất hiện trong cuộc thi thơ thời bấy giờ. Sau năm 1930, một loạt các nhà thơ trẻ học ở phương Tây đã lên tiếng phê phán thơ cũ (thơ Dương luông) là sáo rỗng và tù túng. Họ yêu cầu đổi mới hình thức thơ. Phong trào Thơ đã ra đời và phát triển mạnh mẽ trong khoảng mười lăm năm và dần dần đi vào bế tắc.

Trong Thơ mới, số lượng bài viết kiểu tự do không nhiều, chủ yếu ở dạng thơ bảy chữ và sáu âm tiết. Tuy nhiên, so với thơ cũ, thơ mới tự do hơn, tự nhiên hơn, bởi vì nó không còn bị ràng buộc bởi các quy tắc pháp luật nghiêm ngặt. Hai từ mới của Thơ sau này trở thành tên của xu hướng thơ lãng mạn, gắn liền với các nhà thơ nổi tiếng như The Lu, Lưu Trọng Lu, Xuan Dieu, Huy Can, Nguyễn Bình, Han Mac Tu, Che Lan Viên, Bích Khê, Phạm Huy Thông …

Cuộc tranh luận về thơ mới và cũ là sinh động và khốc liệt trên báo chí đương đại. Cuối cùng, Thơ mới chiến thắng, không phải bằng lý trí mà bằng nhiều bài thơ hay. Nhận xét về vai trò của Lu, nhà phê bình văn học Hoài Thành đã viết: "Lu không bàn về Thơ mới, không bảo vệ Thơ mới, không viết chiến tranh, không lên tiếng. Lu chỉ lặng lẽ, chỉ bình tĩnh đứng vững bước đi, nhưng trong một khoảnh khắc, toàn bộ dòng thơ cũ phải bị phá vỡ. Bởi vì không có gì để tin vào Thơ mới hơn là đọc những bài thơ mới hay. "(nhà thơ Việt Nam).

Về vai trò, Lu không chỉ là người giương cao lá cờ tiên phong của Thơ mới mà còn là nhà thơ tiêu biểu nhất cho các đặc điểm nghệ thuật thơ ca của giai đoạn đầu tiên (1932 – 1935). Nhà thơ chọn bút danh The Lu, ngoài cách chơi chữ (nói tên của buổi lễ) còn ngụ ý tự nhận mình là một du khách lang thang trên trái đất, chỉ tìm kiếm vẻ đẹp của mọi hình dạng của cuộc sống:

  Apple cuối cùng đã áp dụng một thiết kế sản phẩm dày hơn để làm việc hiệu quả hơn

Tôi là một người đi bộ lang thang

Con đường trần gian đi ngược để vui chơi

(Đàn ghi ta đầy màu sắc)

Mặc dù tuyên bố như vậy, Lu The Van vẫn mang nỗi buồn mất nước. Trong bài thơ "Ký ức về khu rừng", nhà thơ đã mượn sự u sầu của một con hổ ngã để mô tả tâm trạng bi thảm của người anh hùng bị đánh bại. Thất bại nhưng vẫn đẹp, vẫn anh hùng.

Nhớ rừng viết dưới dạng thơ tám chữ, vần ngay (hai câu liền kề có cùng vần). Vần điệu, vần thay đổi nhịp nhàng, đều đặn. Hình thức thơ này được sử dụng rộng rãi trong Thơ mới. Bài thơ có hai hình ảnh tương phản, Vườn bách thảo, nơi con hổ bị giam cầm và những ngọn núi và rừng, nơi nó đã bị hống hách trong quá khứ. Cảnh bên trên là hiện thực, cảnh bên dưới là quá khứ và nó là một giấc mơ, một khát khao cháy bỏng.

Hoàn cảnh bị giam cầm là nguyên nhân dẫn đến tâm trạng bi thảm của con hổ. Bi kịch cho thấy hoàn cảnh sống thay đổi hoàn toàn, nhưng tính cách của con hổ không thể thay đổi. Nó không chịu cúi đầu chấp nhận tình huống này vì nó luôn ý thức rằng đó là chúa tể của tất cả các loài.

Nếu được chấp nhận, nó sẽ không còn là nó. Tâm trạng phẫn nộ, bất mãn, giằng xé dữ dội của con hổ bị giam cầm là cảm xúc chi phối bao trùm toàn bộ bài viết và thấm vào từng câu và từ. Tâm trạng được nhà thơ miêu tả bằng ngòi bút sắc sảo và tài năng:

Đánh một khối thù hận vào một cái lồng sắt,

Chúng tôi nằm xuống, nhìn như ngày tháng trôi qua,

Khinh thường những người kiêu ngạo, hoang mang,

Mắt bé nhạo báng rừng sâu.

Bây giờ gặp rắc rối, bị cầm tù và bị giam cầm,

Để làm đồ chơi ưa thích, đồ chơi,

Gấu với gấu,

Với một cặp báo vô tư.

Bài thơ nói lên nỗi đau khổ khủng khiếp của chúa tể rừng núi đã bị giam cầm trong một thời gian dài trong một không gian nhỏ bé, ngột ngạt. Trong câu thơ đầu tiên, các cuộc kiểm tra liên tục kết hợp với một bài thơ chậm, chấm câu nhắc nhở chúng ta về một sự thù hận kết tụ thành một trọng lượng nặng nề trong trái tim của chúng tôi.

Con hổ muốn đá hòn đá vô hình nhưng bất lực, nằm xuống và nhìn xuống trong những ngày qua. Độ dài của các câu trong câu thứ hai phản ánh tình huống bị hạn chế và sự nhàm chán tột cùng của chúa tể rừng.

Từ việc trở thành chúa tể của tất cả chúng sinh được tôn thờ, tôn thờ và hư hỏng trên những ngọn núi hùng vĩ, giờ bị bỏ hoang, bất hạnh, bị nhốt trong chuồng sắt, con hổ cảm thấy nhục nhã và bị giam cầm. Vị thần rừng buồn bã khi bị biến thành một trò chơi kỳ lạ, đồ chơi của những người nhỏ bé nhưng kiêu ngạo, bị hạ bệ với những con gấu điên, với cặp chuồng vô tư … Vô danh, vô nghĩa.

Đấu tranh bằng mọi cách không thoát ra được, hổ phải nằm với tâm trạng bất lực, đầu hàng. Thực tế đáng buồn khiến những con hổ ngày càng nhớ nhiều hơn khi chúng vẫn được tự do chiến đấu trên những ngọn núi và rừng cao:

Tôi sống mãi trong tình yêu và nỗi nhớ

Cuộc sống hối hả ngày xưa.

Nhớ rừng, bóng mát, cây cổ thụ,

Với tiếng gió, với tiếng núi gào thét,

Với một lời hùng biện,

Từ chối hiện tại khắc nghiệt, chúa tể rừng chỉ có hai hướng: hoặc là trở về quá khứ, hoặc mong chờ tương lai. Một con hổ không thể có tương lai mà chỉ có quá khứ. Hào quang rạng rỡ của quá khứ tạo ra ảo ảnh và ảo ảnh đó bị rung động bởi trí tưởng tượng đến cực độ.

Chúa tể của phương tiện rừng đã từng hiểu rằng ông sẽ không bao giờ trở lại vinh quang. Do đó, tâm trạng của nó vừa tự hào vừa xen lẫn nỗi đau và tuyệt vọng. Những từ đẹp nhất, gợi cảm nhất, như bóng tối, cây cổ thụ, tiếng gió, tiếng núi gào thét, hoang vắng, bí mật … được dùng để miêu tả khung cảnh hùng vĩ, hoang sơ. Sức sống hoang dã và mãnh liệt của rừng sâu nơi rừng sâu – Giang Sơn bao nhiêu thế hệ của chúa tể dòng dõi.

Đó là một nơi có hàng ngàn năm của bóng tối vĩ đại, một khung cảnh của những khu rừng ghê gớm không thể tả được. Trên nền tảng hoành tráng đó, chúa tể của khu rừng xuất hiện với vẻ ngoài hùng vĩ và hùng vĩ:

Chúng tôi bước trên bàn chân, rõ ràng và đường thẳng,

Lướt cơ thể như một làn sóng mượt mà, lăn tăn,

Sân bóng lặng lẽ, lá gai, cỏ nhọn.

Trong hang tối, khi mắt tôi bị xoắn,

Là làm cho mọi thứ im lặng.

Tôi biết tôi là chúa tể của mọi sinh vật,

Giữa xưởng hoa không tên, không tuổi.

Những hình ảnh rất phong phú về tạo hình, mô tả sinh động vẻ đẹp hùng vĩ, mềm mại, linh hoạt và sức mạnh bên trong của chúa tể rừng rậm trong những ngọn núi hùng vĩ và những ngọn núi hùng vĩ. Đoạn thứ ba của bài thơ giống như một bức tranh bốn chậu lộng lẫy mô tả cảnh quan thiên nhiên ở những thời điểm khác nhau:

Đêm vàng bên suối

Tôi đứng uống say mê ánh trăng tan?

Những ngày mưa di chuyển bốn hướng

Tôi suy ngẫm về đổi mới Giang Sơn của tôi?

Cây ở đâu

Tiếng chim hót tưng bừng?

Buổi chiều đẫm máu sau rừng

Chúng tôi chờ đợi để chết một mặt trời khắc nghiệt,

Để sở hữu bí mật của riêng chúng ta?

Than ôi! Đâu là thời gian huy hoàng này?

Bốn cảnh: đêm vàng, ngày mưa, bình minh, buổi chiều đẫm máu sau rừng, tất cả cảnh vật đều tráng lệ, hết lần này đến lần khác trong nỗi nhớ bất tận của con hổ sa sa. Đó là một khung cảnh huyền ảo, mơ mộng của những đêm vàng bên bờ suối, chúa tể rừng nguyên sinh đứng uống ánh trăng. Khi những ngày mưa chuyển sang bốn hướng, thần rừng lặng lẽ theo dõi Giang Sơn … đổi mới.

Khung cảnh mặt trời mọc, mặt trời, dầu gội, nhộn nhịp với những chú chim. Cuối cùng, những cảnh buổi chiều đẫm máu sau khu rừng thật dữ dội và bi thảm. Vị lãnh chúa vĩ đại đang chờ đợi một cách nhàn nhã để chết một mặt trời khắc nghiệt, để lấy phần bí mật của chúng ta trong vũ trụ rộng lớn. Đại từ chúng ta lặp lại nhiều lần trong bài thơ tạo ra âm nhạc vững chắc và hùng vĩ của câu thơ, thể hiện niềm tự hào và niềm tự hào của chúa tể của tất cả các loài.

Nhưng dù có huy hoàng đến đâu, đó cũng chỉ là vinh quang của quá khứ xuất hiện trong nỗi nhớ. Những thông điệp: không đâu, nơi … lặp đi lặp lại nhấn mạnh sự hối tiếc của con hổ về quá khứ huy hoàng. Vị thần rừng có vẻ hoang mang, phải đối mặt với thực tế phũ phàng mà mình đang phải chịu đựng. Giấc mơ đẹp kết thúc với một tiếng thở dài: Than ôi, thời gian huy hoàng này ở đâu?

Mặc dù nhân vật kể chuyện trong bài thơ là một con hổ, tự xưng là tôi, (tôi sống …, tôi bước tiếp, tôi biết tôi …) nhưng thực tế đó là "tôi" của nhà thơ lãng mạn được đánh thức giữa đương đại tù tội. Đoạn bốn mô tả khung cảnh của Vườn thực vật qua ánh mắt khinh bỉ của chúa tể rừng. Phần còn lại của chúng tôi có thể được sử dụng. Càng ăn học, bạn có thể ăn thịt gà

Nay ta ôm và đeo băng,

Thay đổi

Cảnh bộ tai hát

Hoa chăm sóc, nâng cao, cồng, mật,;

Nước ngọt và phần mềm

Len hạ nách tầm mô gò

Dăm viên lá hiền lành, không bí

Học tập của chúng tôi

Phần còn lại, phần còn lại, âm u.

Quan văn phòng, thiết kế và thú vị Hoa chăm sóc, săn sóc, chăm sóc, chăm sóc và chăm sóc sức khỏe. Âm thanh và âm thanh, âm thanh, âm thanh, văn hóa Phần cứng và phần cứng, phần cứng và phần cứng.

Hỡi oai linh, nước không cầu!

Là một trong những thứ khác

Nơi đó là thang điểm của chúng tôi

Nơi ta không có gì trong phần mềm!

Có sẵn từ trong ngày hôm nay

Theo tôi thì

Phạm vi của chúng tôi

Hỡi Việt Nam ghê gặt của chúng ta ơi!

Nhà của bạn, phần của họ, phần của họ, phần của họ. Bút pháp và văn hóa của thế giới. Trong trọng tính, văn hóa, tình yêu và sự khác biệt của họ.

Một trong những thứ đó là một trong những thứ khác nhau, đó là một trong những thứ khác nhau. Một trong những thứ khác nhau. Hơn ôi! Mạnh mẽ và hào hứng và hài lòng Tự đặt ra khi bạn đang ở trong thế giới của chúng tôi.

Tâm, tình trạng của chúng tôi, sự tập trung vào sự tin tưởng của họ, sự tập trung của họ. tầm nhìn của chúng tôi Phần cứng của chúng tôi và phần cứng của nó.

Văn hóa, tính toán, tình dục, tình yêu, sự hiểu biết, sự khác biệt, tình cảm và sự khác biệt Toàn bộ nội bộ, trên toàn thế giới. Sự phá vỡ của chúng tôi và sự khác biệt. Tình yêu của chúng tôi, tình yêu và sự khác biệt. Một phần của họ, có thể coi là một phần của tình yêu, một phần của tình yêu.

Thế hệ Lữ ở đây là một trong những thế giới của bạn. Conemony oai đấu và coi là một trong những mối quan hệ tình cảm, vui vẻ, vui vẻ, vui vẻ, hài hòa Phạm vi của chúng tôi

Kiểu tóc của chúng tôi có nghĩa là thú tính Tối nay, bạn có thể sử dụng một số thứ khác nhau.

Bài tập về tài năng và sự hài lòng Một phần của chúng tôi là một phần của nhau. Bài hát trong cuộc sống của bạn Nhắc một phần của Lữ, người ta ăn ở phở. Là thi sĩ, chỉ có thể ngủ và vui vẻ, vui vẻ, vui vẻ.

4 Bình An

Bài viết văn hóa và bài thơ "Bài thơ" của họ Lữ số 4

Một phần của chúng tôi, một trong những thứ khác nhau, một trong những thứ khác nhau.

Bài tập có một phần của nhau, trong số đó là một phần của nhau. Tình yêu nam tính, tình yêu, sự khùng và tình cảm của bạn.

Bài tập về phần mềm của chúng tôi Hai dòng sản phẩm của chúng tôi

Gợi một lần và căm hờn trong

Ta chiều dài, ngày tháng tháng qua.

Gợi cảm, không có gì khác nhau, có vẻ như là nam tính của họ. Nhà ở của chúng tôi nói chuyện với nhau Nồng độ khi nói và tình yêu, tình yêu, tình cảm, tình cảm và tình cảm. Phần cứng, phần cứng, phần lớn, phần mềm, phần lớn Con hổ đã đánh mất, hay bị tước mất tư thế uy nghi của nó.

Nhưng đó chỉ là bề ngoài, ơ trong tâm hồn, con hổ vẫn còn nguyên là con hổ với những kỉ niệm mãnh liệt, với những tình cảm ngang tàng. Sáu dòng tiếp theo nói lên tình cảnh tủi nhục của con hổ, thể hiện ý thức muốn phân biệt với con người và các con vật khác. Còn gì đau khổ hơn là một con hổ – chúa sơn lâm – mà không ai sợ, bị đem dùng làm đồ chơi, và đặt ngang hàng với gấu, báo?

Trong khi đó, so với hổ, chúng chi là một lũ ngẩn ngơ, dở hơi, vô tư lự (không suy nghĩ). 22 dòng tiếp kể về tình thương, nỗi nhớ một thời oanh liệt đã mất: Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa. Hai chữ ngày xưa nghe sao mà xa vời, như không bao giờ có thể trở lại!

Đoạn cuối bài thơ thể hiện một tình cảm tha thiết nhưng bi đát, vô vọng. Đã nằm dài trông ngày tháng dần qua rồi lại Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu, và cuối cùng là không còn được thấy bao giơ, mạch tình cảm làm cho nỗi nhớ nhung của tác giả mang ý vị vĩnh biệt.

Nhớ rừng vừa là khát vọng về thiên nhiên, tự do, khoáng đạt, khát vọng làm chủ giang sơn, vừa là tiếng thở dài mang ý vị vĩnh biệt không hòa nhập với thế giới giả tạo. Dù thời oanh liệt không còn nữa, dù nó một đi không trở lại, thì con hổ vẫn mãi mãi thuộc về thời đã mất ấy chứ không cam tâm làm đồ chơi, mua vui cho con người, không hòa nhập vào thời hiện tại.

Bài thơ cũng gửi gắm một tình cảm yêu nước. Nhà phê bình văn học Lê Đình Kị viết: "Trong thơ ca lãng mạn 1932 – 1945 không nói tới tình yêu, không đi sâu vào những tình tự riêng mà gây được tác động mạnh, trước hết phải nhớ đến bài Nhớ rừng nổi tiếng của Thế Lữ.

Chuyện con hổ ở vườn bách thú nhưng cũng là chuyện của con người phải sống trong tù ngục của chế độ cũ. Đọc những câu thơ của Thế Lữ, người ta rất dễ liên hệ với thân phận sống trong xiềng xích, bị tước mất tự do, bị trói buộc đủ đường thời Pháp thuộc. Cái quá khứ oai hùng của con hổ trước lúc bị giam cầm cũng rất dễ làm ta nhớ tiếc cái quá khứ oai hùng của cha ông. Càng nhớ tới thời oanh liệt, càng thấy uất ức vì phải bị tù hãm, xung quanh toàn những cái nhỏ nhen, tầm thường". Đó là những lời phân tích chí lí.

Bài thơ đầy ắp những sáng tạo về câu chữ, nhịp điệu. Những từ mới tạo: bốn phương ngàn, giấc mộng ngàn; những từ văn xuôi: bọn gấu dở hơi, len dưới nách những mô gò thấp kém, cảnh rừng ghê gớm,… bên cạnh những từ thi vị. Những câu thơ vắt dòng, dài, với liên từ vốn làm cho ý thơ mở rộng, câu thơ co duỗi thoải mái, khác hẳn thơ luật truyền thống, thể hiện trọn vẹn một đặc điểm của Thơ mới đương thời, đó là tạo dáng lại cho câu thơ tiếng Việt.

5 Bình An

Bài văn phân tích bài thơ "Nhớ rừng" của Thế Lữ số 5

Chúng ta sống luôn mang trong mình những suy nghĩ có người chỉ mang suy nghĩ tiêu cực không giúp họ phát triển, luôn sống an nhàn trong một vòng tròn luẩn quẩn của những thứ tiện nghi tầm thường, nhưng lại có những con người luôn thúc đẩy bản thân  bằng những ý nghĩ khác con người tầm thường muốn phong thân đến sự to lớn, không gò bó hạn hẹp, đầy khát vọng làm cho cuộc sống của họ trở nên tuyệt vời hơn. Ta có thể tìm được sự khích lệ của tự do trong suy nghĩ của vị chúa sơn lâm trong tác phẩm tuyệt vời của nhà thơ Thế Lữ.

Bài thơ này trở nên hay tuyệt vời, khi con hổ ấy mang được ý thức chung về sự tự do muôn đời giống như con người của biết bao nhiêu thế hệ. Nó truyền cảm hứng cho con người mạnh mẽ hơn bao giờ. Hơi thất vọng một chút khi bắt đầu bài thơ là sự ngậm ngùi khi chìm trong sự bế tắc của bản thân trong hoàn cảnh khó khăn. Tác giả thương cảm với “Con hổ ở vườn bách thú” đọc được những suy nghĩ của nó hiểu nó hơn đưa được lời nói như gần với con người hơn.

Bài thơ được chia thành 5 đoạn rõ rệt. Đoạn mở đầu chính là cảnh ngộ bi kịch-m bị tù hãm,tâm trạng uất hận, ngao ngán đành buông xuôi bất lực của con hổ. Đoạn 2 và đoạn 3 là sự tiếp nối về dòng suy nghĩ chuỗi liên tưởng quá khứ niềm khao khát, nhớ nhung tự do ở những cánh rừng hùng vĩ khi chưa có sự xâm nhập của loài người, cả nỗi thất vọng, nuối tiếc với tiếng thở dài chua xót của chúa tể rừng xanh.

Đoạn 4 tái hiện sự so sánh của hai hoàn cảnh nơi sống giữa quá khứ và thực tại. Tiếp nối, đoạn cuối cùng để thoát khỏi sự kìm kẹp của thực tại Hổ chỉ có thể gợi về sống với quá khứ oanh liệt, thả hồn trong “giấc mộng ngàn to lớn- giấc mộng về rừng thẳm, giấc mộng tự do chất chứa trong lòng”.

Sự ngậm ngùi ấy bắt nguồn từ nỗi căm hờn, bi phẫn mà người đọc vẫn muốn tìm hiểu kĩ càng về cuộc sống. Có thể nói sự tác động của con người đến với thiên nhiên, đến với những muông thú mà tự nhiên đã ban tặng đã vừa giúp họ phát triển theo sự phát triển của xã hội, nhưng để lại là nỗi đau của sự tàn phá thể xác, tâm hồn cho các loài động vật và thiên nhiên

Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,

Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua,

Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,

Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm

Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,

Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi,

Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,

Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Có thể nói tâm sự của con hổ một chúa sơn lâm của rừng xanh tuy cảm thấy được sự kiêu ngạo trong từng câu chữ nhưng dường như rất thật. Hổ phải chịu sự khuất phục của con người ngạo mạn với thiên nhiên không có chút suy nghĩ về bảo tồn thiên nhiên, không còn xứng đáng với vị trí cao nhất ở rừng, cũng không được sống như là chính mình chỉ là một trò lạ mắt,trò vui tiêu khiển của con người  cùng con vật thấp bé hơn loài Hổ này về địa vị, “Bọn gấu dở hơi”, “cặp báo… vô tư”. Sự đau khổ kìm hãm ấy càng làm hổ đau khổ, ngao ngán với hoàn cảnh hiện tại.

Dường như con hổ đau với hiện tại nằm thở dài, cảnh tượng trước mắt nó khép lại mà đưa nó đến với âm thanh của núi rừng giục giã. Cảnh tượng rừng núi y như trong trí nhớ của Hổ là sự hùng vĩ, bạt ngàn, phóng khoáng của núi và rừng phóng khoáng vô cùng yên tĩnh.

Tiếp đó là sự liên tưởng sự xuất hiện của nó uy nghi, lẫm liệt ngự trị, thăm dò mọi vị trí con vật nào cũng nể sợ  trong vương quốc của nó, những cảnh tượng như một thước phim quay chậm đầy hình ảnh, tiếng động làm con Hổ bồn chồn, không thể yên tĩnh được, nó muốn cử động, muốn chạy nhảy, thỏa mãn với sự sống tự do đúng của nó thể hiện phóng túng sâu sắc ở đoạn thơ thứ 2.

Tác giả dùng những động từ, tính từ mạnh để dựng nên sự kì vĩ của núi rừng, bên cạnh sự hoạt động của con Hổ đầy tiếng động: tung hoành , hóng hách, gào thét, hút, dữ dội, dõng dạc, cuộn. Có thể thấy được sự sử dụng đại từ không chỉ đơn thuần nhỏ bé mà giữa trời đất rộng lớn, con hổ thấy được vị trí của mình cũng không hề nhỏ, sánh ngang với thiên nhiên bật lên được từ “ Ta” đầy quyền uy, kiêu hãnh.

Hình ảnh phong phú hiện lên rõ ràng, gợi cảm trong tâm thế của con Hổ. Tác giả tập trung tả ánh mắt của chú hổ này  đã làm cho không gian đều có thần thái, uy  lực của nó thể hiện ở sự  khi đã quắc là khiến mọi vật đều im hơi”, sự mềm mại của tấm lưng, uyển chuyển khoan thai từ dáng đi của Hổ. Một bộ tứ không gian in đậm rõ xuất hiện trong cuộc sống của Hổ bao gồm “đêm trăng, ngày mưa, sáng xanh chiều đỏ”. Tất cả mọi không gian thời gian, con Hổ đều chế ngự với tư thế vô cùng chủ động.

Tiếp nối đoạn 2, đoạn 3 nâng sức mạnh của Hổ lên không chỉ trong rừng xanh, mà là cả ở vũ trụ theo như suy nghĩ của Hổ với những hình ảnh rực rỡ đầy màu sắc nhưng chủ yếu là gam màu đỏ như máu là chủ đạo “màu của mặt trời trong giây phút hấp hối sự tàn lụi sau ngày dài ”. “những đêm vàng bên bờ suối”, “những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn”, “những bình minh cây xanh nắng gội” và “những chiều lênh láng máu sau rừng”.

  Top 6 phần mềm tiếp thị SMS số lượng lớn tốt nhất 2019

Sự kiêu ngạo trong biện pháp tu từ  nhưng xen lẫn cùng  phong cách cường điệu của tác giả  làm cho đoạn thơ hấp dẫn. Dưới con mắt của nó, Mặt Trời ở đây Dưới con mắt của nó, mặt trời cũng chỉ là “mảnh” mà thôi, thật nhỏ bé và thảm hại! và cái bóng của nó như bao trùm cả vũ trụ.

Đã nâng con mãnh thú này lên tầm vóc vũ trụ với bút pháp cường điệu. Giọng điệu của tác giả: khi hào hùng sôi nổi mà đĩnh đạc,  khi than thở nuối tiếc mà xót xa, mà chất vấn.tâm trạng con hổ từ đỉnh cao huy hoàng của sự hồi tưởng, hổ sực tỉnh nhìn về hiện tại lạnh lùng, cay đắng thốt lên “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?”.

Sự khinh ghét của con hổ về vẻ đơn điệu, tầm thường và giả dối củ cảnh vườn Bách thú, nơi hoàn toàn đối lập với chốn núi rừng thâm nghiêm, hùng vĩ thể hiện ở đoạn 4:

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:

Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;

Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém;

Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,

Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu

Của chốn ngàn năm cao cả, thâm u.

Sống trong hoàn cảnh này, thà con Hổ để tâm hồn của mình được bay về quá khứ,” giặc mộng về với tự do” chứ nhất quyết không thể chịu sự kìm hãm của “ cũi sắt” thể hiện rõ trong đoạn 5 tâm trạng của sự hướng tới cái to lớn, không chịu sự tầm thường, vô nghĩa., muốn khẳng định cái “tôi”, khẳng định cá tính.Sự lãng mãn thể hiện thành công ở đây với tâm trạng bất hòa với thực tại đối lập bới ước mơ, sự tự do, cao cả..

Vì nó là tâm trạng của con  Hổ nhưng ta có thể liên tưởng tới tâm hồn con người Việt lúc bất giờ. Sự bế tắc trong cảnh nô lệ, cùng ngậm nỗi căm hờn to lớn như Hô, cũng đầy tiếc nuối về thời oanh liệt xa xưa thể hiện cho một trang thơ đậm tính lãng mạn.

Bài thơ được gắn với một hồn thơ mới- hồn thơ Thế Lữ thật thành công và đầy tính độc đáo, sự lãng mạn. Chúng ta mong và luôn tin tưởng được con Hổ trong chính tác phẩm đã được trở về với sự tự do, không bị giam hãm tù đày, cũng như thế hệ trẻ Việt Nam làm hết mình để có thể đấu tranh cho sư tự do vĩnh cửu của dân tộc.

6 Bình An

Bài văn phân tích bài thơ "Nhớ rừng" của Thế Lữ số 6

Nhớ rừng là bài thơ kiệt tác của Thế Lữ, nhà thơ tiên phong của phong trào Thơ mới (1932 – 1941). Với nhạc điệu du dương, với cảnh sắc thiên nhiên tráng lệ, đặc biệt với hình tượng con hổ, bài thơ Nhớ rừng đã chinh phục mỗi chúng ta, đã chiếm lĩnh nơi sâu kín nhất cõi tâm hồn bao người trong hơn nửa thế kỷ qua.

Con hổ được thi sĩ nói đến với bao cảm thông và ngưỡng mộ. Nó đang nằm trong cũi sắt vườn Bách thú. Chúa sơn lâm trong cảnh tù hãm vô cùng cay đắng uất ức căm hờn đã tích tụ, đã chứa chất thành một khối. Không căm hờn sao được khi phải nằm dài, trông ngày tháng dần qua trong cũi sắt? Không uất ức, cay đắng sao được khi chúa sơn lâm đang bị lũ người giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm, đang trở thành thứ đồ chơi, với cặp báo vô tư lự trong vườn bách thảo? Thế Lữ đã thể hiện tâm trạng cay đắng, căm hờn của con hổ mất tự do đầy ám ảnh:

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua…(…),

Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm…

Qua đó, ta càng thấy rõ: Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn (Truyện Kiều – Nguyễn Du); ta càng thấm thía: trên đời nghìn vạn điều cay đắng- Cay đắng chi bằng mất tự do (Nhật ký trong tù – Hồ Chí Minh). Năm tháng dần trôi qua, chúa sơn lâm có bao giờ nguôi được nỗi nhớ rừng. Nhớ thuở tung hoành hống hách những ngày xưa.

Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi…

Như tư thế cao sang, oai hùng của ta. Một cái bước chân, một tấm thân lượn sóng, một cái vờn bóng… Tất cả đều dõng dạc, đường hoàng. Một chữ ta vang lên đầy tự hào của chúa sơn lâm:

Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng

Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.

Quyền uy của ta là tuyệt đối. Mọi vật đều phải khiếp sợ, phải im hơi khi mắt thần của ta đã quắc, ta biết giữa chốn thảo hoa, ta là chúa tể cả muôn loài:

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,

Là khiến cho mọi vật đều im hơi.

Ta biết ta chúa tể cả muôn loài,

Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi

Nỗi nhớ rừng thiêng, nhớ quyền uy… của chúa sơn lâm chính là nhớ những năm tháng không thể nào quên. Nỗi nhớ ấy chính là khát vọng sống, khát vọng tự do cháy bỏng. Hổ nhớ rừng là nhớ đến những kỉ niệm chói lọi một thời vàng son, một thời oanh liệt. Cảnh vật tráng lệ. Nhạc của thơ cũng là nhạc của rừng.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm cảnh giang sơn ta đổi mới?

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật!

Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Các luyến láy, điệp ngữ: đâu những đêm vàng…, đâu những ngày mưa.. đâu những bình minh…, đâu những chiều…, nay còn đâu? xuất hiện nối tiếp trong năm câu hỏi tu từ tạo nên nhạc điệu du dương, triền miên, da diết, thể hiện sâu sắc tình thương nỗi nhớ của hùm thiêng sa cơ, nhớ rừng, tiếc nuối một thời oanh liệt nay đã trở thành hoài niệm, thành dĩ vãng.

Chúa sơn lâm nhớ đêm, nhớ ngày, nhớ bình minh, nhớ chiều tà, nhớ suối, nhớ trăng, nhớ cảnh giang sơn trong màn mưa rừng, nhớ cây xanh nắng gội, nhớ chim hót tưng bừng lúc bình minh, nhớ mặt trời gay gắt trong khoảnh khắc hoàng hôn… Nỗi nhớ tiếc ấy là nỗi đau buồn bị tước đoạt mất tự do, cũng là nỗi khao khát tự do.

Thế Lữ đã sáng tạo nên những vần thơ giàu hình tượng và nhạc điệu, dào dạt cảm xúc để thể hiện nỗi nhớ rừng của con hổ… Một tiếng than như xiết lấy lòng người: Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu? Bị sa cơ, bị tù hãm trong cũi sắt. Phải xa rừng nên nhớ rừng. Đau đớn và uất hận biết bao giờ nguôi? Như một tiếng thở dài ngao ngán:

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu.

Vị chúa sơn lâm, nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già rồi uất hận căm ghét những cảnh không đời nào thay đổi tẻ nhạt, vô vị, vô nghĩa tầm thường giả dối nhỏ bé:

Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;

Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém.

Uất hận cảnh tù hãm, chán ghét những cảnh vật tầm thường nhỏ bé do lũ người kia ngạo mạn bày ra, hổ lại nhớ day dứt, nhớ khôn nguôi cảnh nước non hùng vĩ. Nhớ rừng là nhớ vương quốc tự do ngày nào:

Là nơi giống hầm thiêng ta ngự trị

Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa.

Trước thực tại đau đớn, hổ chỉ còn biết thả hồn mình theo giấc mộng ngàn. Chúa sơn lâm cất tiếng gọi rừng thiêng với bao nhớ thương bồi hồi, da diết: Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

Nhớ rừng là một trong mười bài thơ hay nhất của phong trào Thơ mới (1932 – 1941). Thể thơ tự do, lời thơ đẹp, hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ. Nhạc điệu du dương, cảm xúc dào dạt. Hình tượng con hổ sa cơ, đau đớn uất hận, da diết nhớ rừng được khắc họa sâu sắc, đầy ám ảnh.

7 Bình An

Bài văn phân tích bài thơ "Nhớ rừng" của Thế Lữ số 7

Thế Lữ đã được biết đến với vai trò như “người đặt viên gạch đầu tiên cho phong trào Thơ mới”. Thơ ông như một luồng gió lạ, khiến người ta biết say mê cái đẹp của cuộc sống, biết hi vọng vào cái sáng lạn của cuộc đời. Thế mới biết hết cái uy phong của một “viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ” lẫm liệt biết chừng nào ! Cái uy phong của “ngôi sao mới” ấy đã được thể hiện rõ trong bài thơ Nhớ rừng – một thi phẩm nổi tiếng của ông.

Nếu hồn thơ Thế Lữ là “cây đàn muôn điệu” thì Nhớ rừng chính là điệu thơ nổi bật nhất của ông. Giọng điệu bao trùm thi phẩm là sự bi tráng, là “khúc trường ca dữ dội” nói lên bi kịch của cả một thời đại. Bài thơ dựng lên hai khoảng không gian, đối lập : sự hùng vĩ của thiên nhiên và sự chật hẹp, tù túng của vườn bách thú nơi con hổ đang sống. Nét bút lãng mạn của Thế Lữ đã nâng sự đối lập đầy tính bi kịch đó lên để tạo ra âm hưởng hào sảng, kì vĩ cho bài thơ, nổi bật là hình ảnh bộ tranh tứ bình tinh xảo và độc đáo.

Đầu tiên là bức tranh rừng núi trong đêm :

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan.

Một “đêm vàng” bên bờ suối, hình ảnh ẩn dụ ở đây thật lộng lẫy và huyền ảo. Nhà thơ không nói “đêm trăng” mà lại nói là “đêm vàng” khiến cho cảnh vật bỗng trở nên huy hoàng, rực rỡ hơn bao giờ hết. Ánh trăng chiếu xuống khu rừng làm cho mọi vật như lung linh và nhuộm một sắc màu vàng óng lấp lánh.

Tưởng như trên thế gian này có bao nhiêu vàng bạc, trời hút lên rồi trút hết xuống khu rừng. “Uống ánh trăng tan” cũng là một hình ảnh ẩn dụ đẹp. Ánh trăng chiếu xuống mặt nước, mặt nước lung linh in hình bóng trăng và ánh trăng dường như tan ra trong dòng nước, nó loãng ra, trải dài trên mặt nước mênh mông, bát ngát, lấp lánh, kì ảo.

Con hổ uống nước suối mà như uống ánh trăng trong cơn say mồi. Hình ảnh này đã gợi cho ta nhớ đến câu ca dao cổ: Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi? Thế Lữ đã thổi hồn thi sĩ vào trái tim con mãnh chúa, nếu không như thế thì làm gì có “đêm vàng”, làm gì có “uống ánh trăng tan”. Thiên nhiên đẹp và quyến rũ quá làm cho giá trị của buổi đêm hôm ấy dường như tăng lên gấp bội phần, càng làm cho vị chúa tể thêm mơ màng, say sưa trong giấc mộng.

Tiếp theo là bức tranh về cơn mưa rừng. Con hổ – với sự trầm mặc của một nhà hiền triết, lặng im ngắm nhìn “giang sơn” mà hổ là bá chủ. Những giọt mưa dội xuống làm tươi mát cả khu rừng, cả rừng núi như thay đổi với một sức sống mới dạt dào, tràn trề hơn bao giờ hết.

Có một cái gì đó rất trong trẻo, tinh khôi hiện lên trong hình ảnh thơ này. Con thú giờ đã không chỉ còn là một thi sĩ nữa mà còn có cái nhìn của một triết gia, một nhà thông thái. Bức tranh này mang vẻ đẹp của sự nhẹ nhàng, thanh khiết và tinh tế đến kì lạ. Cùng với bức tranh thứ nhất, nó đã giúp ta hiểu được sự muôn hình muôn vẻ của thiên nhiên hằng lưu dấu vết trong tâm hồn con hổ.

Từ vai trò của vị đế vương mà giang sơn là cả núi rừng mênh mông và thăm thẳm. Buổi bình minh ở chốn hoang dã tươi rói sắc màu và thánh thót, du dương âm thanh của muôn thú trong con mắt của vị chúa sơn lâm. Trên ngai vàng ngự trị, hổ ta từ từ thưởng thức cái thú vui tiệc rượu của một đấng “quân vương” với cảnh bình minh cây xanh làm màn che trướng rủ, chim chóc trong rừng là những cung nữ chuyên phục vụ chúa sơn lâm bằng những điệu múa uyển chuyển và tiếng ca réo rắt đến vui tai của mình.

Tất cả lại từ từ đưa vị chúa tể vào giấc ngủ êm ái và dịu ngọt. Nền tranh rạng rỡ bởi màu sắc của ánh bình minh, bởi hương rừng ngan ngát cỏ hoa và tiếng ca thánh thót, ngân nga của chim chóc và muông thú trong rừng. Mỗi vẻ đẹp ở đây đều thấm đẫm hơi thở của tự do làm cho bậc “quân vương” say đắm, mê mẩn đến ngẩn ngơ!

Bức tranh cuối cùng là cảnh hoàng hôn nơi rừng chiều. Giọng điệu thơ không còn luyến tiếc, thở than, mà trở nên mạnh mẽ, đầy chất vấn, giận dữ giữa quá khứ và hiện tại. Con hổ hiện lên trong một tư thế kiêu hùng của một tên bạo chúa tự do và khát máu. Mấy chữ “lênh láng máu” thật là ghê gớm.

Nó lại làm cho ta liên tưởng từ máu của một con vật tội nghiệp nào đấy đến máu của ánh tà dương khi mặt trời buông sắc đỏ vào buổi chiều lênh láng. Dường như sắc đỏ này đã nhuộm màu thời gian. Máu đã trở thành kỉ niệm đáng nhớ trong trái tim con hổ. Nếu rừng núi ỉà kẻ thù thì “sau rừng” gợi ra một không gian bao la, vô tận của riêng mặt trời và’cũng đồng thời làm hiện ra vẻ bí hiểm của nơi diễn ra trận chiến quyết liệt giữa “chúa tể ở trên cao” và “mãnh chúa dưới rừng thẳm”.

Động từ “chết” khiến mặt trời dường như đã trở thành một vật thể sống, không còn là một khối cầu lửa vô tri vô giác nữa. Mặt trời đã là một con thú thảm hại dưới ánh nhìn kiêu bạc của vị chúa sơn lâm. Ba chữ “mảnh mặt trời” dường như đã cho ta biết rằng mặt trời đã hoàn toàn trở nên tầm thường, không sánh được với kì phùng địch thủ của mình trong cuộc thi tài cao thấp quyết liệt để chiếm lấy “riêng phần bí mật”, tầm vóc con dã thú ở đây kì vĩ trên cả vũ trụ…

Bức tứ bình cuối cùng này đã thể hiện bàn chân ngạo nghễ, oai linh tột cùng của một kẻ thống trị vũ trụ. Trước chúa sơn lâm, vầng thái dương chỉ còn là “mảnh mặt trời” bé nhỏ mà thôi. Con hổ giờ đã trở thành chúa tể của cả muôn lọài. Sự tự do vĩ đại thế này hổi sao con hổ không “gặm” căm hận khi bị giam hãm được ?

Những nỗi nhớ hiện lên dồn đập như trong một cuốn phim. Liên tiếp những “nào đâu”, “đâu những”,… khiến cho nỗi nhớ “ngày xưa” thật da diết và khắc khoải. Trong không gian hùng vĩ và nên thơ đầy “bóng cả cây giả”, thì hổ mơ mộng như một thi sĩ, trầm tư như một hiền nhân, quyền uy như một đế vương và quyết đoán như một vị chúa tể.

Cái ngày xưa ấy đã qua và sẽ không bao giờ có thể trở lại được nữa. Những gì là vinh quang tột đỉnh sẽ chẳng có ý nghĩa khi không có tự do. Sau những hình ảnh khoáng đạt trên là một nỗi buồn sâu nặng, đau đớn. Sự tuyệt vọng của con hổ đặc quánh và đắng chát ở câu thơ: Than ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Nhớ rừng không chỉ có sức hấp dẫn của một thi phẩm, mà nó còn có vẻ đẹp quyến rũ của một kiệt tác hội hoạ hay là giai điệu diệu kì của đàn ca! Lời thơ biến hóa một cách tự nhiên. Giọng điệu thơ cháy bỏng nỗi nuối tiếc, về quá khứ thì giọng thơ hùng tráng dữ dội, quay về với thực tại thì giọng thơ lại trở nên buồn tẻ, ngao ngán ! Điều đó kết tụ thành nỗi thống thiết, tuyệt vọng ở câu thơ cuối cùng: Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi !

Trong một đoạn trích thơ, Nhớ rừng đã hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình, nó như một bản tuyên ngôn giành quyền sống của Thơ mới. Khép trang sách lại, tâm trí ta như vương vấn với những vẻ đẹp của thiên nhiên với khát vọng tự do cháy bỏng.

Phải chăng khi viết bài thơ này, tác giả không chỉ muốn thể hiện hoàn cảnh trớ trêu của con hổ mà còn muốn nói lên nỗi khao khát tự do mãnh liệt, nỗi chán ghét cảnh sống tù túng, tầm thường, giả dối và lòng yêu nước thầm kín của người dân Việt Nam lúc bấy giờ ? Khát vọng cao cả ấy vẫn mãnh liệt đến mức đủ sức chinh phục và ngân vọng mãi trong trái tim người đọc mọi thời.

số 8 Bình An

Bài văn phân tích bài thơ "Nhớ rừng" của Thế Lữ số 8

Là một trong những gương mặt đầu tiên của phong trào Thơ Mới, ngay khi xuất hiện Thế Lữ đã gây tiếng vang lớn trên văn đàn với bài thơ Nhớ rừng. Một phong cách hoàn toàn mới, thoát li tính quy phạm ước lệ, đây chính là khởi nguồn của thơ mới. Bài thơ Nhớ rừng là một mốc son chói lọi trong sự nghiệp của Thế Lữ, ẩn chứa nhiều giá trị sâu sắc.

Mở đầu tác phẩm là hình ảnh của chúa sơn lâm với biết bao căm hờn, phẫn uất:

"Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,

Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua,….

Với cặp báo chuồng bên vô tư lự."

Vốn là chúa tể sơn lâm, ngự trị cả rừng già, nhưng nay lại bị giam hãm, hổ vô cùng đau đớn, phẫn uất, nỗi căm hờn đó đã dồn nén biết bao lâu nay, chứa chất thành hình, thành khối. Kết hợp với động từ gậm càng nói rõ hơn sự phẫn uất của chúa tể sơn lâm. Sao có thể không căm tức cho được khi phải nằm dài trông ngày dài tháng rộng qua đi.

Cay đắng hơn là khi ý thực được sự bất hạnh của bản thân, nhưng vẫn phải nhẫn nhục chịu đựng làm thứ đồ chơi lạ mắt cho mọi người, phải làm bạn với lũ báo chuồng bên trong vườn bách thảo. Nỗi đau này ai có thể thấu cho hết. Trong hoàn cảnh bị giam cầm, tù hãm nỗi nhớ cảnh sơn lâm càng trở nên cồn cào, da diết và mãnh liệt hơn. Đó là cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già thâm u huyền bí mà chúa sơn lâm ngự trị. Nơi đó mọi uy quyền của nó được phát huy tối đã, chỉ cần một cái quắc mắt cũng làm cho mọi vật im hơi, sợ hãi:

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn thét núi

….…….

Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi

Hình ảnh con hổ trong khổ thơ hiện lên thật uy nghi, lẫm liệt. Tấm thân lượn sóng nhịp nhàng, những bước chân dõng dạc, đường hoàng đã nói lên tất cả quá khứ hào hùng của con hổ. Đại từ nhân xưng ta được sử dụng xuyên suốt khổ thơ, vang lên đầy tự hào, khẳng định quyền uy tuyệt đối của hổ.

Trước sức mạnh của chúa sơn lâm mọi vật đều phải kiêng dè, sợ hãi. Khi mắt thần đã quắc tất cả mọi vật đều phải im hơi. Nỗi nhớ rừng thiêng, nơi hổ ta từng ngự trị chính là những năm tháng đẹp đẽ mà nó không bao giờ quên. Đồng thời qua nỗi nhớ đó cũng cho thấy khát vọng sống, khát vọng tự do cháy bỏng của chúa sơn lâm. Khổ thơ tiếp theo là một bức tranh đặc sắc, một quá khứ vàng son, tráng lệ của hổ:

Nào đâu những đêm vàng bên bời suối

Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu

  Top 7 bài thơ hay nhất và ý nghĩa nhất của Laika (Nguyễn Lai)

Khổ thơ là các câu hỏi tu từ liên tiếp nhau: đâu những đêm vàng, nào đâu những ngày mưa, đâu những bình minh,… tạo nên sắc thái da diết, khắc khoải. Đặt câu hỏi đó chính là cách gợi nhắc, nuối tiếc về quá khứ vàng son, rực rỡ thuở trước. Biết bao nhớ thương, tiếc nối, bức họa được phác lên đầy màu sắc và ánh sáng: đêm vàng, ánh trăng tan, mưa chuyển bốn phương ngàn, cây xanh nắng gội, tiếng chim ca vang núi,…

Quá khứ càng đẹp đẽ, rực rỡ bao nhiêu thì hiện tại lại càng đau đớn xót xa bấy nhiêu. Xưa tung hoành, vùng vẫy, nay bị cầm tù giam hãm. Than ôi, thời oanh liệt đã lùi vào quá vãng. Khổ thơ là bức tranh đẹp đẽ nhất trong tác phẩm, với ngôn ngữ giàu giá trị hình tượng, màu sắc và âm thanh.

Nhạc điệu biến đổi linh hoạt, khi du dương khi dữ dội mạnh mẽ. Các câu hỏi tu từ và điệp ngữ được vận dụng một cách tài tình đã nói lên nỗi đau bị tước đoạt quyền tự do và khát khao tháo cũi sổ lồng mãnh liệt. Trở lại với thực tại, con hổ càng đau đớn, căm ghét hơn khung cảnh giả dối, tầm thường:

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu

….

Của chốn ngàn năm cao cả, âm u

Khung cảnh thực tại giả dối, hoa chăm cỏ xén, những mô gò thấp kém không bí hiểm sao có thể sánh được với đại ngàn hoang vu. Cũng chính bởi sự giả tạo của khung cảnh càng làm hổ ta đau đớn hơn, vì khung cảnh đó không xứng với một kẻ làm chúa tể sơn lâm như hổ.

Khổ thơ cuối cùng là những lời thơ đầy phẫn uất, đầy đau đớn, và ý thức rõ ràng rằng nơi đó ta sẽ chẳng thấy được bao giờ, mà chỉ có thể hòa vào nó trong giấc mộng mà thôi: “Có biết chăng trong những ngày ngao ngán/ Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn/ Để hồn ta phảng phất được gần ngươi/ Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!”.

Bài thơ khép lại bằng lời nhắn gửi da diết, khắc khoải, lời nhắn đó xoáy sâu vào tâm trí người đọc, khiến ta ám ảnh mãi về khao khát tự do, khát khao một cuộc đời tung hoành, không chỉ của riêng con hổ mà còn là của người dân Việt Nam lúc bấy giờ.

Mượn lời con hổ ở vườn bách thú, Thế Lữ đã thể hiện tâm trạng cua những dân Việt Nam trong quãng thời gian bị mất nước. Bởi vậy tiếng lòng của con hổ cũng chính là tiếng lòng của nhân dân ta lúc bấy giờ. Cái hay và giá trị sâu sắc của văn bản Nhớ rừng chính là ở chỗ đó.

9 Bình An

Bài văn phân tích bài thơ "Nhớ rừng" của Thế Lữ số 9

Thế Lữ là một trong các cây bút tiên phong, mở đường cho thơ ca hiện đại Việt Nam phát triển. Có thể nói ông là người cắm ngọn cờ chiến thắng cho thơ mới, dựng lên nền thơ mới cho thi ca dân tộc ở ngay chặng đầu (1930-1935). Thơ ông mang nặng tâm sự thời thế, đất nước nhưng không bế tắc, u buồn mà là tiếng thơ tha thiết, bi tráng.

"Nhớ rừng" là một trong những bài thơ được sáng tác theo bút pháp lãng mạn, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp sáng tác Thế Lữ và cũng là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới. Thi phẩm được sáng tác năm 1934, in trong tập "Mấy vần thơ" (1935), tác giả đã mượn lời con hổ bị nhốt ở vườn bách thú để diễn tả sâu sắc nỗi chán ghét thực tại tầm thường, tù túng và niềm khát vọng tự do mãnh liệt của chàng thanh niên mất nước.

Bộc lộ niềm khát vọng được khẳng định cái tôi của chính mình và được phát triển trong một cuộc sống rộng lớn, đất nước tự do. Đó cũng là lời tâm sự chung của những chàng thanh niên trí thức sống trong hoàn cảnh mất nước thời kì đó. Trước hết, với bài thơ "Nhớ rừng", Thế Lữ đã xây dựng thành công hình tượng con hổ bị sa cơ lỡ vận, mang vẻ đẹp của người anh hùng chiến bại. Đoạn thơ mở đầu là nỗi đau bi kịch của con hổ ngay trong thì hiện tại:

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua

Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ

Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm

Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm

Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi

Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi

Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Nỗi căm hờn là nỗi đau đớn, uất ức, căm phẫn vốn vô hình nhưng qua động từ "gậm" đã trở nên có hình có khối, như có thể nhìn thấy cụ thể. Nỗi căm hờn ấy không chỉ tồn tại trong một khoảnh khắc mà nó luôn âm ỉ, kế đọng từ rất lâu rồi. Đó là nỗi căm hờn của sự cầm tù "trong cũi sắt" đến mất quyền tự do, chỉ biết "nằm dài" ngao ngắn, tuyệt vọng nhìn ngày tháng trôi qua dần dần mà bất lực.

Nỗi đau bi kịch đó của chúa sơn lâm càng được đẩy lên cao trào hơn khi phải sống chung với "bọn gấu dở hơi" và trở thành một món đồ chơi lạ mắt cho "lũ người ngạo mạn". Hiện tại là thế: sa cơ, tù hãm, bất lực nhưng hổ chẳng bao giờ quên được những năm tháng của thuở trời đất dọc ngang, ngang dọc tung hoành bốn bể năm nào:

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ

Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa

Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,

Với khi thét khúc trường ca dữ dội,

Ta bước chân lên dõng dạc, đường hoàng,

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,

Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,

Là khiến cho mọi vật đều im hơi

Ta biết ta chúa tể cả muôn loài

Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.

Nỗi nhớ đã khơi nguồn cho những cảnh núi rừng bí ẩn lần lượt hiện ra thật tráng lệ, hùng vĩ nhưng cũng thật trữ tình, nên thơ. Đó là cảnh "bóng cả cây ngà", "tiếng gió gào ngàn", "giọng nguồn hét núi". Chúa sơn lâm cứ say sưa nhớ lại những kỉ niệm rực lửa, huy hoàng, tự hào và kiêu hãnh khi ấy.

Những động từ miêu tả động tác như "bước, vờn, lượn, quắc" kết hợp với hệ thống những từ láy giàu tính chất tạo hình "nhịp nhàng, dõng dạc, âm thầm" đã tạo nên một vị chúa tể rừng xanh vừa mềm mại, uyển chuyển, vừa tự tin, đàng hoàng, lại vừa oai phong lẫm liệt, dũng mãnh phi thường. Và thời gian đó là những ngày tháng đẹp nhất:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

-Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Nỗi nhớ cồn cào da diết cứ dẫn dắt mãnh hổ trở về với quá khứ xa xăm của một thời vang bóng, đó là những đêm trăng vàng bên bờ suối tận hưởng, thả hồn uống ánh trăng đêm; những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn, lặng lẽ ngắm mưa rừng dữ dội; những ngày yên bình, thanh thản trong ánh nắng bình minh ngập tràn sắc nắng hay là lúc hả hê, vui thích trong những chiếm lợi phẩm và đợi mặt trời lặn xuống để làm chủ đêm đen.

Nghệ thuật điệp cấu trúc (điệp ngữ) kết hợp với câu hỏi tu từ đan xen vừa diễn tả dòng hồi tưởng miên man không dứt; lại vừa thể hiện nỗi nhớ nhung da diết, xen lẫn niềm tiếc nuối xót xa về những ngày tháng được tung hoành, tự do. Vì thế, câu thơ cuối đoạn cất lên như một tiếng thở dài ngao ngán, tuyệt vọng: "-Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?"

Trở về với thực tại tầm thường, giả dối, nỗi chán ngán, sự khinh bỉ của "chúa tể muôn loài" đã tăng lên đến cao độ. Đó toàn là những khung cảnh giả dối, tầm thường:

Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;

Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém;

Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,

Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu

Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Vì thế, đoạn thơ cuối là lời nhắn gửi bi tráng của con hổ với chốn nước non hùng vĩ. Một mặt thể hiện niềm xót xa về quá khứ; một mặt khẳng định tâm thế cường tráng, mạnh mẽ của mãnh hổ không gì có thể khuất phục được, ngay cả khi đã bị giam cầm trong cũi sắt:

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!

Là nơi giống hầm thiêng ta ngự trị

Nơi thênh thanh ta vùng vẫy ngày xưa

Nơi ta không còn được thấy bao giờ!

Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,

Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn.

Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,

-Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

Xét về hình thức nghệ thuật của bài thơ "Nhớ rừng", cái "mới" của thi phẩm trước hết được thể hiện qua thể thơ tám chữ, gieo vần liền (hai câu liền nhau có vần với nhau), vần bằng, vần trắc hoán vị liên tiếp, đều đặn. Kế thừa thể hát nói truyền thống nhưng "Nhớ rừng" với thể tám chữ đã được dùng linh hoạt, tự do hơn về cách ngắt nhịp, phá bỏ hoàn toàn những qui định niêm luật vận đối cứng nhắc (khi ngắn, khi dài, khi anh, khi chậm…).

Ngoài ra ngôn ngữ hình ảnh thơ không còn mang tính ước lệ nữa, thay vào đó rất sinh động, sáng tạo, giàu tính chất trữ tình, biểu cảm. Bên cạnh đó, bài thơ còn sử dụng nhiều các biện pháp tu từ nghệ thuật: ẩn dụ, so sánh, liệt kê, câu hỏi tu từ… Tất cả điều đó đã tạo nên tính nhạc điệu và chất họa cho bài thơ.

Xét về nội dung, bài thơ "Nhớ rừng" đã mượn lời con hổ ở vườn bách thảo để thể hiện kín đáo tâm sự con người thời kì đó. Bài thơ có lời đề từ là "Lời con hổ ở vườn bách thú"những đó thực chất là lời tâm sự, khát vọng tự do mạnh mẽ của thế hệ thanh niên sống trong hoàn cảnh mất nước.

Đó là "niềm uất hận ngàn thâu" đối với hiện thực xã hội tù túng, ngột ngạt – một hiện thực khiến con người thấy chán ghét, muốn từ bỏ, thoát ly. Đi liền với sự chối bỏ là niềm khát khao mạnh mẽ được đổi thay, được khẳng định giá trị bản thân mình trong một xã hội bình yên, phẳng lặng.

Vì thế, bài thơ không chỉ dừng lại ở việc xây dựng hình tượng con hổ bị giam cầm, nhớ về thời vàng son của mình mà còn gửi gắm trong đó sự lên tiếng của cá nhân, đòi giải phóng cái tôi người nghệ sĩ và mong ước đất nước được hòa bình, tự do, thoát khỏi cảnh nô lệ, ngục tù. Cho nên, có thể nói, bài thơ đã bộc lộ kín đáo, thấm thía tình yêu quê hương, đất nước của nhà thơ Thế Lữ.

Tóm lại, qua bài thơ "Nhớ rừng", chúng ta thấy được sức sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Thế Lữ, góp phần khẳng định chỗ đứng vững chắc và sự toàn thắng của thơ mới trên văn đàn, đánh dấu một bước ngoặt lớn của thi ca Việt Nam đương đại. Bài thơ đã dựng lên thành công hình tượng chúa sơn lâm thật đẹp, thật bi tráng mang nỗi niềm tâm sự của con người. Vượt thoát khuôn khổ câu chữ trong thơ, bài thơ đã thể hiện sâu sắc thấm thía tình yêu quê hương đất nước của lớp thanh niên đương thời.

mười Bình An

Bài văn phân tích bài thơ "Nhớ rừng" của Thế Lữ số 10

Thế Lữ với tâm hồn dạt dào cảm xúc cùng với khả năng sử dụng ngôn từ tài tình ông đã có những đóng góp lớn trong phong trào thơ mới. Trong đó tiêu biểu là bài thơ Nhớ rừng. Tên tuổi của ông được gắn liền với bài thơ Nhớ rừng. Ông mượn hình ảnh con hổ bị giam cầm để nói về cuộc sống khao khát tự do của mình. Qua đó thể hiện thái độ phủ nhận thực tại làm nô lệ, khát vọng tự do và lòng yêu nước thầm kín của dân tộc.

Nhớ rừng được Thế Lữ viết theo thể thơ tám chữ, vàn liền, vần bằng, vần trắc thay đổi nhịp uyên chuyển. Mở đầu bài thơ là cảnh ngộ con hổ bị giam giữ trong lồng đây là nguyên nhân tâm trạng chất chứa bao bi kịch của con hổ:

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua,
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm.
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi,
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Hổ là một loài sống quen trong rừng núi hoang dã đồng thời được mệnh danh là chúa sơn lâm vậy mà nay bị giam giữ trong lồng còn làm trò cho lạ mắt , thứ đồ chơi nên con hổ rất u uất và căm phẫn. Nó không cam chịu trước hoàn cảnh bởi nó luôn ý thức mình là chúa sơn lâm nên nơi ở của nó không phải ở đây mà thuộc về núi rừng hoang dã. Nếu nó cam chịu sống trong cảnh tù túng thì chắn hẳn nó không phải là nó nữa. Tâm trạng u uất, bất bình, giằng xé dữ dội trong tâm con hổ bị cầm tù và cảm xúc này đã bao trùm toàn bài thơ.

Đoạn thơ đã hiện nên nỗi khổ tâm của một vị chúa sơn lâm bị cầm tù sống trong khung cảnh ngột ngạt. Trong đoạn thơ này những thanh trắc kết hợp với nhịp thơ chậm càng nhấn mạnh nỗi căm phẫn của con hổ đang bị giam cầm. Nhưng nó thật bất lực bởi con người giam cầm nó thật chắc chắn nó đành nằm thở dài và trông ngày tháng đang dần trôi qua.

Đường hoàng là chúa tể của muôn loài được các con vật khác tôn sùng và tung hoành chốn núi non hùng vĩ nay bị sa cơ và bị nhốt trong cái cũi sắt chặt hẹn nó cảm thấy như đang sống trong tù hằn không có chút tự do. Đồng thời nó còn bị làm trò mua vui cho người khác. Nó cảm thấy những con người bé nhỏ ngạo mạn  bị hạ xuống như bầy gấu dở hơi,cặp báo chuồng,..là những con vật thấp kém. Nhưng nó không thể làm gì mà nằm thở dài với ánh mắt bất lực nhìn về chốn núi rừng nơi thuộc về mình.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,

Thực tại phũ phàng càng khiến con hổ nhớ về thuở tung hành của mình. Quá khứ ấy thật là tự do và đẹp đẽ. Một mình tung hoành khắp chốn rừng sâu chăng phải toan tính lo nghĩ. Con hổ nhớ cảnh “lâm sơn, bóng cả, cây già, gió ngàn, với khi thốt khúc trường ca dữ dội,..” .

Tác giả đã sử dụng những từ ngũ để miêu tả cảnh hùng vĩ vớ sức sống mãnh liệt. Và chúa sơn lâm thừa hiểu bản thân dĩ vãng oanh liệt sẽ không bao giờ trở lại nên nó chỉ có thể tự hào về bản thân trong quá khứ mà nhớ lại quá khứ tươi đẹp của bản thân.

Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể cả muôn loài,
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.

Trong khung cảnh núi non hùng vĩ ấy con hổ hiện nên một cách oai vệ đường hoàng và có quyền lực. Nó như một thế lực hùng mạnh mà không một loài nào có được nên vì thế nó được rất nhiều con vật khác nể lang và không dám đối chọi lại. Nó tự hào bản thân có đôi mắt thần nên hay hoạt động vào ban đêm. Như vậy ta thấy được con hổ là một con vật cực kì khỏe, quyền lực và ưa thích tự do.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới ?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để chiếm lấy riêng ta phần bí mật?
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Từ đay ta thấy được bộ tranh tứ bình rất đẹp đẽ lên thơ. Bốn cảnh: những đêm vàng, những ngày mưa, những bình minh, những chiều lênh láng máu sau rừng, cảnh nào cũng tráng lệ, lần lượt hiện lên trong nỗi nhớ tiếc khôn nguôi của con hổ sa cơ.

Trong khung cảnh huyền ảo và thơ mộng ấy chúa sơn lâm như đang say mồi đứng uống ánh trăng tan. Chúa sơn lâm đứng bên bờ suối lặng im ngắm cảnh giang sơn thay đổi bốn mùa. Là cảnh bình minh, tiếng chim ca, cảnh chiều lênh láng máu sau rừng. Đại từ “ta” lặp đi lặp lại nhiều lần tạo nên sự rắn rỏi, hùng tráng với sức mạnh lớn của chúa sơn lâm. Dù có huy hoàng đến mấy thì đó cũng chỉ là dĩ vãng nên con hổ chỉ biết thở dài và quay lại hiện tại.

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Chúa sơn lâm tỏ ra khinh bỉ cảnh bốn sắc ở vườn Bách Thảo. Đây chỉ là những sự sắp đặt đơn điệu mà không phải tự nhiên thật là buồn tẻ. Nó thấy khi mà con người càng bắt chiếc làm theo thiên nhiên nó càng thấy giả tạo và căm phẫn.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!

Là nơi giống hầm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

Tác giả đã thể hiện rất thành công tâm trạng của con hổ bị giam cầm và khát vọng tự do mãnh liệt. Trong cái cảnh bị giam cầm con hổ chỉ biết gửi tâm hồn mình về chốn núi non hùng vĩ nơi mà nó được sinh ra và được lớn lên. Con hổ rất bất bình với cuộc sống mất tự do và bị xiềng xích và tù túng. Vì thế mà nó chỉ thốt lên tiếng than oán.

Như vậy ta thấy được tâm trạng của con hổ là tâm trạng chung của người dân Việt nam bị đàn áp và bị cướp đi cuộc sống tự do. Họ khao khát có một cuộc sống tự do vốn dĩ họ có quyền có được. Ấy vậy mà bây giờ chỉ có thể ao ước.

Qua bài thơ này ta thấy được tác giả đã thể hiện rất thành công thể thơ mới đồng thời qua đó nói lên hiện thực cuộc sống bị giặc ngoại xâm, xâm chiến khiến con người và đất  nước ta mất tự do đồng thời dân ta bị đàn áp nên rất căm phẫn. Và họ khao khát có một cuộc sống hòa bình tự do.